Những điều bạn nên biết về phân tích xét nghiệm

Trong già nửa thế kỉ trước, khi phòng thí nghiệm đón nhận các ống nghiệm máu, kĩ thuật viên xét nghiệm ngồi giữa đống chai lọ với các loại thuốc thử, cân và những, máy móc thiết bị đơn giản khác, thực hiện bất kì một phân tích nào bác sĩ chỉ định. Mỗi lần phân tích mất từ 5 đến 10 phút.

Vì sao xét nghiệm gây nên những lời than phiền?

Thật dễ hiểu tại sao người có trình độ hiểu biết thấp tiếp nhận kết quả của những xét nghiệm với một thái độ rất nghiêm trọng. Thứ nhất, các phân tích được thực hiện bởi các thiết bị đắt tiền và phức tạp, mà phần lớn người bệnh tin rằng mọi thông tin nhận từ các thiết bị kĩ thuật đều đáng được chú ý và tin cậy. Thứ hai, mọi hoạt động của bác sĩ luôn được bao bọc bởi một sự bí ẩn nào đó, mà một người thiếu kinh nghiệm khó đoán được trên thực tế điều đó có ý nghĩa gì. Trong khi đó ta có thể giải mã được kết quả xét nghiệm trên tờ in nhỏ đó một cách không khó khăn gì. Lẽ nào lượng đường cao lại không phát hiện ra bệnh tim? Mà câu trả lời cho hai câu hỏi trên như sau: Đôi khi đúng, đôi khi sai! Không có một một xét nghiệm nào có khả năng trả lời mọi câu hỏi. Chiếu Rơngen dạ dày không thể cho ta biết tất cả những gì muốn biết ở dạ dày. Phân tích nước tiểu có thể khám phá một điều gì đó về bệnh thận, nhưng cũng có khi những quả thận bị bệnh vẫn bài tiết ra nước tiểu bình thường.

xet-nghiem

Tuy vậy, cho dù có những hạn chế nhất định và thường bị lạm dụng, thì các xét nghiệm vẫn có ý nghĩa rất quan trọng.

Kết quả tính toán toàn diện các tiểu thể máu

Xét nghiệm này dự đoán việc đo một loạt các thông số, nhưng máy móc có thể làm công việc này dễ dàng đến mức không có ai chỉ đặt phòng thí nghiệm để lấy kết quả phân tích hồng cầu và bạch cầu. Thực tế các máy tính điện tử dùng phân tích thành phần máu có bước tiến lớn. Trước đây, khi phân tích thành phần máu, nhân viên phòng thí nghiệm phải ngồi chúi mũi vào kính hiển vi và đếm những tiểu thể máu trên đầu ngón tay. Máy móc không chỉ tiết kiệm thời gian và sức lao động mà còn làm công việc này chính xác hơn nhiều.

Kết quả phân tích bao gồm toàn bộ thành phần thực (có nghĩa là thành phần thấy được) của máu. Chúng bao gồm các tiểu thể máu màu đỏ (hồng cầu) các loại tiểu thể máu màu trắng (bạch cầu), tiểu cầu, các vật thể kí sinh.

Hồng cầu đem ôxy từ phổi đến các mô, đổi lại lấy dioxit cacbon ở các mô trả về phổi. Thông thường ở đàn ông đếm được khoảng gần 5 triệu hồng cầu trong một mm3 máu (từ 4,5 đến 5,7 triệu). Kết quả tính toán cũng chỉ ra lượng huyết cầu tố – protein trong hồng cầu, chất dùng vận chuyển khí. 14-17g/100ml được coi là chuẩn ở đàn ông. Còn một thông số của kết quả xét nghiệm ở thể tích huyết cầu (hồng cầu kế), thể tích tính toán chính xác của hồng cầu trong một lượng máu nhất định (từ 41 -50%).

xet-nghiem-mau

Có thể tạo ra được một ấn tượng, là kết quả hồng cầu, huyết cầu tố và hồng cầu kế đo được cùng một độ, nhưng thực tế hiểu biết ba thông số này cho phép tiến hành những tính toán nhất định. Thí dụ việc phân chia hồng cầu thể ra số lượng hồng cầu cho ta thể tích thực của một tế bào. Một số bệnh như thiếu sắt, có thể dẫn đến việc tạo thành hồng cầu nhỏ; thiếu vitamin B2, ngược lại, là các hồng cầu lớn quá cỡ. Vì vậy thể tích thực trong tính toán là một thông số rất cần thiết.

Khi số lượng hồng cầu – tức là huyết cầu tố – trong máu giảm xuống dưới mức tiêu chuẩn, sẽ xuất hiện bệnh thiếu máu (ít máu). Có hàng trăm loại rối loạn khác nhau gây ra bệnh thiếu máu, và nghĩa vụ của người thầy thuốc là phải tìm ra chính xác nguyên do gây nên thiếu máu ở từng bệnh nhân riêng. Một số trường hợp thiếu máu do bẩm sinh, không chữa khỏi được đôi khi cũng vô hại, các trường hợp khác đôi khi có thể gây nên bệnh tim nặng như u ác tính ở tim.

Thiếu máu là trạng thái không được khỏe nhưng tình trạng đối lập với nó cũng không phải là trạng thái tốt – đó là hiện tượng tăng hồng cầu (tăng nhanh số lượng hồng cầu). Số lượng hồng cầu quá lớn làm giảm hoạt tính của máu và tăng nguy cơ tạo thành các cục máu nghẽn (máu đông). Tăng hồng cầu xuất hiện do một vài căn bệnh không phổ biến về máu. Nó cũng xuất hiện trong điều kiện các mô không đủ số lượng ôxy (thí dụ khi con người ở độ cao lớn hoặc ốm nặng bởi bệnh tim hoặc phổi). Nhưng phổ biến hơn cả là ở những người nghiện thuốc lá nặng (hồng cầu kế 54).

Bạch cầu tham gia vào các phản ứng miễn dịch. Trong máu thường xuyên có mặt không dưới nửa tá các dạng tế bào khác nhau này, gồm có bạch cầu đơn nhân to, bạch cầu trung tính, bạch cầu ưa axit… Số lượng bạch cầu khoảng 4 – 10.000/1ml máu. Trong thời gian nhiễm bệnh chỉ số này có thể giảm còn một nửa, một phần ba, đôi khi giảm xuống đến còn 3000/1ml, có nghĩa là, hoặc sự viêm nhiễm tiêu diệt khả năng sinh sản bạch cầu bằng tủy, hoặc bạch cầu tụ lại ở ổ nhiễm khuẩn, điều đó khiến cho nồng độ của bạch cầu trong máu thấp xuống. Độ bạch cầu thấp được phát hiện ra trong các trường hợp rối loạn miễn dịch, hoặc trong trường hợp rối loạn chức năng tủy (nơi bạch cầu được tạo ra) do nhiễm trùng, do xuất hiện các u ác hoặc do tác dụng của thuốc.

Một số bác sĩ tin rằng, lượng bạch cầu cao chỉ ra bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, còn lượng bạch cầu thấp là nhiễm vi rút. Điều đó không hoàn toàn đúng. Lượng bạch cầu đáng lưu ý chỉ khi nào chưa chắc chắn trong người bệnh có viêm nhiễm hay không. Lượng bạch cầu không bình thường trong một người bệnh đang viêm nhiễm không chứng minh điều gì và cũng không giúp ích gì trong chữa trị.

Bình Luận